Tốc độ mở rộng đất đô thị Việt Nam chỉ kém Trung Quốc

Chia sẻ qua: icon Facebook icon Send Mail

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, cảnh quan đô thị ở hai thành phố lớn của Việt Nam là Hà Nội và TP.HCM đang phát triển nhanh hơn nhiều so với tất cả các thành phố khác tại Đông Á.

>>Điều chỉnh nâng cấp cảng hàng không 65 năm tuổi ở Sơn La

toc-do-mo-rong-dat-do-thi-viet-nam-chi-kem-trung-quoc

Báo cáo "Thay đổi Cảnh quan đô thị Đông Á: Đánh giá một thập kỷ phát triển không gian” của Ngân hàng Thế giới cho thấy gần 200 triệu người đã di chuyển đến các khu vực đô thị tại khu vực Đông Á trong giai đoạn 2000-2010.

Nhìn chung, đô thị ở Đông Á tăng với tốc độ trung bình 2,4% mỗi năm trong 1 thập kỷ, với tổng diện tích đô thị vào năm 2010 là 134.800 km2 vào năm 2010.

Dân số đô thị tăng nhanh hơn với mức tăng bình quân hàng năm là 3,0%, đạt 778 triệu trong năm 2010 – con số lớn nhất so với bất cứ khu vực nào khác trên thế giới. Phải mất hơn 50 năm châu Âu mới đô thị hoá được số dân như vậy.

Đông Á có 869 khu vực đô thị có trên 100.000 dân. Trong đó bao gồm 8 thành phố lớn với hơn 10 triệu người, bao gồm đồng bằng Châu thổ Châu Giang, Thượng Hải và Bắc Kinh của Trung Quốc; Tokyo và Osaka của Nhật Bản; Jakarta, Seoul và Manila.

Đồng bằng Châu thổ Châu giang của Trung Quốc đã vượt qua Tokyo và trở thành đô thị lớn nhất thế giới cả về quy mô và dân số.
 
Tổng diện tích đất đô thị trong năm 2010 ở mức 1%, trong đó có tới 36% tổng dân số là đô thị, tăng so với tỷ lệ 29% trong năm 2000.

Tại Việt Nam, diện tích đất đô thị tăng từ vị trí lớn thứ 7 trong năm 2000 (2.200 km2) lên vị trí thứ 5 vào năm 2010 (2.900 km2).

Việt Nam có dân số đô thị lớn thứ sáu trong khu vực Đông Á. Trong giai đoạn 2000 với 2010, dân số đô thị tăng 7,5 triệu người.

Nhìn chung, báo cáo tìm ra mối liên quan giữa tăng trưởng kinh tế và tốc độ đô thị hóa.

Tuy nhiên, măc dù tăng trưởng đô thị mang lại cơ hội đổi đời cho người nghèo, chúng cũng có thể nới rộng khoảng cách khoảng cách giàu nghèo trong khả năng tiếp cận dịch vụ, tìm việc và mua nhà.

Tỷ lệ mở rộng đô thị một phần khác nhau tại các quốc gia trong khu vực. Tỷ lệ này đạt cao nhất tại Lào và Campuchia, với hầu hết các tỉnh thành vẫn là nông thôn đang dần đô thị hóa, tại lần lượt là 7,3% và 4,3%.
Theo sau là Trung Quốc tại tỷ lệ mở rộng đô thị là 3,1% mỗi năm, sau đó đến Việt Nam tại 2,8%, Mongolia (2,6%), và Philippines (2,4%).

Nhật Bản là nước có tỷ lệ đất đô thị lớn thứ hai nhóm các quốc gia trong khảo sát, nên tỷ lệ mở rộng đất đô thị vào mức thấp nhất tại 0,4%.

Nhìn chung, tỷ lệ dân số thành thị tăng nhanh hơn đất đai tại Đông Á. Tổng dân tăng từ 579 triệu người vào năm 2000 lên 778 triệu người sau đó 10 năm. Con số này tương đương với số dân của một nước lớn thứ sáu trên thế giới.

Trung Quốc là quốc gia góp phần chủ yếu tạo nên xu hướng này, với 477 triệu người dân đô thị vào năm 2010, nhiều hơn tổng dân thành thị trong toàn khu vực gộp lại.

Tăng trưởng tại nước này cũng cao gấp đôi so với tỷ lệ trung bình của khối.

Tỷ lệ tăng trưởng của Việt Nam vượt trên Thái Lan và Hàn Quốc trong giai đoạn này.

Trong khi số dân thành thị tại Trung Quốc, Indonesia và Philippines tăng trưởng dương trong 10 năm nghiên cứu, thì tỷ lệ tương ứng tại Nhật Bản và Hàn Quốc lại co bóp.

Nhìn chung, tỷ lệ tăng trưởng dân đô thị tại nước quy mô thành phần này lớn như Trung Quốc thấp hơn các nước nhỏ khác.

Ví dụ, Lào là quốc gia có tỷ lệ dân thành thị tăng nhanh nhất, gần gấp đôi trong 10 năm, theo sau là Campuchia và Việt Nam, với tỷ lệ trong khoảng 4 - 4,5%/năm.

Trong các nhóm thu nhập khác nhau, tỷ lệ đô thị hóa cũng khác nhau. Tỷ lệ này cao hơn đôi chút tại các nước thu nhập trung bình.

Tuy nhiên, tỷ lệ đô thị hóa một phần lại đạt mức cao nhất tại những nước có thu nhập khá, theo sau là nhóm thu nhập trung bình thấp, và thấp.

Nếu thuần tính về định lượng, Trung Quốc là nước có tỷ lệ mở rộng đất thành thị mạnh nhất, chiếm tới 19 trong số 25 tỉnh thành top đầu báo cáo.

Theo sau là hai thành phố của Việt Nam là Hà Nội và TP.HCM.

 

Theo BizLIVE

Các tin khác