Áp lực đẩy lãi suất

Chia sẻ qua: icon Facebook icon Send Mail

Có một nghịch lý đang xuất hiện trong nền kinh tế là: Lạm phát thấp cứ thấp, áp lực lãi suất tín dụng và chi phí của DN cao cứ cao. Áp lực này cụ thể ra sao và có dẫn đến khả năng điều chỉnh lãi suất từ nay tới hết năm?

“Lãi suất cho vay sẽ không giảm thêm nhiều hơn”

ap-luc-day-lai-suat

Diễn biến tăng trưởng tín dụng và lãi suất điều hành trong thời gian qua

Vào đầu tháng 8/2015, với mức lạm phát đang thấp, CPI có triển vọng giảm và đặc biệt giá dầu thế giới đang biến động theo chiều liên tục đi xuống, nhiều DN vẫn ôm hy vọng lãi suất của NH theo đó có thể giữ nguyên hoặc điều chỉnh xuống cùng chiều, ít nhất là ở các khoản vay trung và dài hạn.

Từ tỷ giá và lạm phát

Biến động cụ thể và gần nhất là đồng Nhân dân tệ với đợt phá giá ngoài dự đoán từ NHTW Trung Quốc, đã khiến NHNN VN ứng phó điều chỉnh tăng biên độ giao dịch tỷ giá. Theo đó VND mất giá thêm 3%. Cộng với 2 lần điều chỉnh tỷ giá trước đó, VND đã mất giá 5%, cũng khiến kì vọng này tiêu tan. Nguy cơ lãi suất có thể tăng trở lại khi tâm lí nắm giữ VND xẹp xuống và tâm lí “găm” đồng ngoại tệ dù khát cầu thực sự hay không đang hiển hiện tăng. Áp lực tăng lãi suất cũng sẽ là áp lực nặng thêm gánh chi phí trên đôi vai DN.

Dù vậy, theo mô hình tính toán của TS Lê Xuân Nghĩa – nguyên Phó Chủ tịch UBGSTC Quốc gia, cứ điều chỉnh tỷ giá 1% thì sẽ chỉ làm tăng lạm phát thêm 0,13%. Tức điều chỉnh tỷ giá bao gồm cả điều chỉnh trực tiếp và nới biên độ giao dịch từ đầu năm đến nay, cũng chỉ làm tăng lạm phát thêm chưa tới 1%. “Mức điều chỉnh tỷ giá hối đoái có thể làm tăng lạm phát trong ngắn hạn không lớn, không đáng kể”, TS Nghĩa cho biết. Chính vì vậy, vẫn trong tháng 8, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia đã giữ nguyên dự báo năm 2015 lạm phát cơ bản khoảng 3% và lạm phát (tổng thể) thấp hơn 3%.

Lạm phát thấp là một trong những tín hiệu để dự đoán lãi suất có thể sẽ giữ thấp (như hiện tại) hoặc được điều chỉnh xuống thấp, khi lãi suất huy động xét trên lý thuyết đã thực dương tới khoảng trên dưới 3%. Bản thân các nhà điều hành cũng đã tỏ ra lo ngại việc lạm phát giữ quá thấp, sẽ ảnh hưởng tăng trưởng ổn định của nền kinh tế và khả năng kích hoạt, thúc đẩy đầu tư công để giữ mức đầu tư tăng trưởng đã được vạch ra.

Tới tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng tín dụng BĐS

Nhưng trên thực tế, vẫn còn một yếu tố khác ngoài tỷ giá có thể tác động đến đường cong lãi suất cả ngắn hạn lẫn dài hạn, và việc “nắn” sẽ theo chiều đi lên, khi tăng trưởng tín dụng của các nhà băng hiện đang tập trung nhiều vào tín dụng bất động sản (BĐS). Đây đa phần là những khoản tín dụng trung và dài hạn, mà cấu trúc huy động trung và dài hạn lại chưa đủ mức tăng trưởng đáp ứng thanh khoản để bù đắp mức tăng trưởng này cho chính các nhà băng.

Theo Báo cáo của Vụ tín dụng các ngành Kinh tế (NHNN), tính đến 25/8/2014, tín dụng của nền kinh tế đã tăng 9,54% so với cuối 2014. Như vậy tín dụng tăng gấp 2 lần so với cùng kì đã xác thực tăng trưởng tín dụng năm nay không phải là bài toán khó đối với các nhà băng như ở thời điểm 1 năm trước đây. Báo cáo của Vụ tín dụng cũng cho biết tăng trưởng tín dụng của 5 lĩnh vực ưu tiên đều đạt con số khả quan. Tuy nhiên, báo cáo lại không đề cập đến tăng trưởng tín dụng dành cho BĐS mà hệ thống nhà băng thời gian qua đã cung cấp vốn.

Riêng về số liệu này, một thống kê độc lập của Chứng khoán Bản Việt trước đó cho biết, tính đến hết quý II/2015, trong tất cả các khoản vay, tăng trưởng khoản vay ngành BĐS đã tăng mạnh, tăng 10,9% so với năm ngoái, chiếm 8,3% tổng khoản vay. Một khi tăng trưởng tín dụng BĐS, với hàng trăm ngàn tỷ đồng đã được rót vào thị trường địa ốc trong 8 tháng (ước 6 tháng đã đạt trên 300.000 tỷ đồng), trong đó phần lớn các khoản vay đều nằm ở trung dài hạn với các hình thức: NH đầu tư trái phiếu dài hạn cho các DN phát hành trái phiếu/dự án địa ốc; NH tài trợ vốn tín dụng cho DN/ dự án địa ốc; NH tài trợ/ cho vay vốn đối với khách hàng vay mua nhà ở; thì có nghĩa như đã nói ở trên phần lớn các khoản vốn, ngoại trừ khoản vay bổ sung lưu động của DN được thỏa thuận kì hạn ngắn, sẽ bị “đọng” lại trong thị trường BĐS dài lâu. Nhu cầu huy động bổ sung thanh khoản để triển khai các dịch vụ sản phẩm tín dụng ở các lĩnh vực khác đối với nhà băng theo đó càng mạnh mẽ. “Tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ và có khả năng vượt mục tiêu sẽ khiến các NH phải đối mặt với điều chỉnh lãi suất huy động tiền gửi”, VCSC nhận định.

Như vậy, cầu tín dụng đang có nguy cơ kéo lãi suất huy động điều chỉnh. Và ngược lại, nếu lãi suất huy động nhích tăng, lãi suất đầu ra chắc chắn cũng sẽ phải tăng lên mà không đợi “độ trễ” hay “điểm rơi” chính thức. Áp lực tăng lãi suất huy động, dẫn đến tăng lãi suất vay là có thật.

Ẩn số chi phí… tương lai

Theo báo cáo của NHNN về lãi suất cho vay, xét trong tuần 3 tháng 8, “hiện, mặt bằng lãi suất cho vay phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 6-7%/năm đối với ngắn hạn, các NHTM nhà nước tiếp tục áp dụng lãi suất cho vay trung và dài hạn phổ biến đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức 9-10%/năm. Lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường ở mức 6,8-9%/năm đối với ngắn hạn; 9,3-11%/năm đối với trung và dài hạn…”.

Thống kê bình quân của TS Cấn Văn Lực, Phó Tổng giám đốc, Cố vấn cao cấp Chủ tịch Ngân hàng BIDV cũng cho biết, chênh lệch lãi suất 2 đầu huy đông – cho vay của hệ thống đang phổ biến ở 2,7%. “DN nhìn chung không quá đặt nặng yếu tố lãi suất ở thời điểm hiện nay, mà là câu chuyện DN có vay được không hay NH có cho vay không? Lãi suất hiện nay ổn định và ở mức khá thấp so với nhiều năm vừa qua” – TS Lực đánh giá.

Nhưng 2,7% có là mức chênh lệch phổ biến? Một chuyên gia Kinh tế cho rằng để xét khoảng chênh lệch này, có thể chưa bao gồm đầy đủ các yếu tố: “Trích lập dự phòng rủi ro, tỷ lệ huy động – CAR rồi NH mới được cho vay ra, chi phí “cứng” của NH khi thẩm định tín dụng và cho vay… Theo đó, “mức chênh lệch thực tế phải trên 3% thì NH mới đủ chi phí cũng như đảm bảo NIM (tỷ lệ thu nhập lãi thuần) ở mức hợp lí và đạt các chỉ tiêu lợi nhuận đề ra”, ông này nói.

Nhiều DN không muốn nêu tên cũng cho biết trên thực tế, để được vay các khoản tín dụng hạn mức lớn, thời gian dài, DN vẫn phải san sẻ nhiều chi phí khác cùng NH. Các mức phí này cũng không được cộng vào để xác nhận “chênh lệch” lãi suất thực giữa gửi tiết kiệm và cho vay của khách hàng tổ chức như: Phí thu hồi lãi suất ưu đãi (nếu DN vay gói “ưu đãi” mà NH ban hành), phí phạt trả nợ trước hạn (nếu DN tất toán khoản nợ trước hạn), phí “lobby” cho các khoản vay lớn…

Theo Diễn đàn doanh nghiệp

Các tin khác